Skip to main content
CHUYỂN ĐỔI SỐ - KẾT SỨC MẠNH, NỐI THÀNH CÔNG
Chế độ ban đêm In trang Xuất PDF Đọc nội dung
-A A +A

TỰ HÀO DU KÍCH BẮC SƠN

 

 

Ngày 14/10/1940 đội du kich Bắc Sơn được thành lậpvới tư cách là lực lượng vũ trang của địa phương. Kể từ đó,du kích Bắc Sơn đã không ngừng lớn mạnh,trưởng thành. Nhiều người trong số họ đã trở thành các nhân vật lịch sử, cácnhà hoạt động Cách mạng tên tuổi của Việt Nam. Với lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần chiến đấu gan dạ,dũng cảm,sẵn sàng hy sinh quên mình vì sự nghiệpgiải phóng dân tộc, du kích Bắc Sơn đã trở thành niềm tự hào lớn của quê hương, đất nước.

Khi mới thành lập, độidu kích Bắc Sơn chủ yếugồm nhữngđảng viên và quần chúng tích cực vừa tham gia trong khởi nghĩa Bắc Sơn. Từ một đội du kích phát triển lên thành trung đội Cứu quốc quân, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng,du kích Bắc Sơn đã tập hợp trong đội ngũ của mình những người lãnh đạo tài năng,những đảng viên kiên trung nhất của huyện và một số đồng chí có năng lực ở miền xuôi lên.

 

Hình ảnh các chiến sỹ du kích Bắc Sơn trưng bày tại Bảo tàng tỉnh.

 

Trong đội du kích,chúng ta thấy sựcó mặt của những người tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm của huyện. Đó là các đồng chí Đường Văn Thông, Hà Khai Lạc, Nguyễn Văn Phòng (tức Mai Huyền), Đường Văn Thức - những đảng viên đầu tiên của huyện Bắc Sơn tại chi bộ Đảng do đồng chí Hoàng Văn Thụ thành lập năm1936. Bên cạnh đó là các đồng chí Dương Thần Tần, Hoàng Đình Ruệ, Lương Đình Sơn,Dương Văn Tạch – bí thư chi bộ các xã Bắc Sơn, Hưng Vũ, Hữu Vĩnh,Vĩnh Yên… Đa số đều là thành viên của Ban Châu uỷ Bắc Sơn, tham gia chỉ đạo hoạt động của các tổ chứcĐảng trong huyện.Ngoài ra còn có các đồng chí khác như Hoàng Văn Hán, Dương Công Bình, Dương Quốc Vinh, Nông Văn Cún (tức  Thái  Long)… Họ là những người đãchỉ huy hoặctích cực tham gia vào cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/9/1940. Cuối năm1940, đầu năm 1941,để giữ vững và phát triển phong trào, TW Đảng đã bổ xung cho du kích Bắc Sơnmột số đồng chí cán bộ có năng lực ở miền xuôi và các nơi khác đến như Lương Văn Tri, Chu Văn Tấn, Nguyễn Cao Đàm, Hoàng Văn Thái, Bùi Thống, đồng chí Ái… Giữa năm 1941, sau Hội nghị TW Đảng lần thứ 8 tại Pác Bó(Cao Bằng), TW Đảng tiếp tục cử đồng chí Phùng Chí Kiên –một cán bộ quân sự tài năng,là Uỷ viên Ban Thường vụ TW Đảng về phụ trách căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai, trực tiếp chỉ huy trung đội Cứu Quốc quân Bắc Sơn.

Dễ nhận thấy, đội du kích Bắc Sơn là nơi quy tụ khá nhiều cán bộ quân sự xuất sắc của Đảng. Đồng chí Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri là những cán bộ quân sự được đào tạo bài bản, chính quy, cả hai đều được Đảng, Bác Hồlựa chọn đi học ở trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).Họ là những người vững vàng về lý luận chính trị, dày dạn về kinh nghiệm thực tiễn,từng hoạt động Cách mạng ở nước ngoài, sau đó trở về nước thamgia lãnh đạo Cách mạng Việt Nam.Đồng chí Lương Văn Tri  là Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ phụ trách về quân sự. Đồng chí Phùng Chí Kiên đã có nhiều năm làm việc cùng Bác, được Người rất tin yêu, kỳ vọng.Bên cạnh đó là đồng chí Hoàng Văn Thái, một cán bộ miền xuôi từng tham gia lớp huấn luyện về quân chính ở Hiệp Hoà (Bắc Giang) năm1940 do Xứ uỷ Bắc Kỳ tổ chức. Ông là một cán bộ quân sự tài năng, một trong 34 chiến sĩ của đội Việt NamTuyên  truyền giải phóng quân – tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam. Sau đó trở thành Tổng tham mưu trưởng, một tướng lĩnh cao cấp của quân đội nhân nhân Việt Nam.Tuy không theo các lớp đào tạo chính quy nhưng đồng chí Chu Văn Tấn lại nổi lên như một thủ lĩnh dày dạn thực tiễn ở địa phương. Ông thông thạo địa hình địa vật, chỉ huy đánh du kích giỏi, có nhiều đóng góp trong xây dựng căn cứ Cách mạng ở Bắc Sơn – Võ Nhai. Ngay sau khi trung đội Cứu Quốc quân Bắc Sơn được thành lập, ông đã được TW Đảng tín nhiệm giao nhiệm vụ chỉ huy một tổ đưa đường, bảo vệ đoàn cán bộ cao cấp của Đảng gồm các đồng chíTrường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt,Trần Đăng Ninh và hai đồng chí đại diện Trung và Nam Kỳ đi dự Hội nghị TW lần thứ 8 ở Pác Bó (Cao Bằng) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì.Trải qua một hành trình khó khăn, gian khổ từ Bắc Sơn qua Bình Gia,lên Tràng Định, sang Long Châu (Trung Quốc)rồi mới vòng về Pác Bó. Đội đã hoàn thành thành xuất sắc nhiệm vụ, đảm bảo an toàn cho các cán bộ TW Đảngtrong chuyến công tác đặc biệt này.KhiTrung đội Cứu Quân II thành lậpngày 15/9/1941ở Tràng Xá (Võ Nhai, Thái Nguyên),đồng chí Chu Văn Tấn đã được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng. Đầu năm 1942, phong trào Cách mạng Bắc Sơn, Võ Nhai gặp nhiều khó khăn vì địch đàn áp, khủng bố, đồng chí đã dẫn các chiến sĩ Cứu quốc quân sang Trung Quốc để chỉnh đốn đội ngũ, bảo toàn lực lượng rồi lại tiếp tục về nước hoạt động.Về sau, ông đã trở thành một trong những tướng lĩnh đầu tiên của quân đội,đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Khu tự trị Việt Bắc...Trải qua quá trình hoạt động, các chiến sĩ du kích Bắc Sơn đãngày càng trưởng thành, trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào cách mạng Bắc Sơn.Họ đã tích cực xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn –Võ Nhai, anh dũng chống lại sự càn quét, khủng bố hòng triệt tiêu căn cứ Cách mạng của địch.Tronghoạt động và chiến đấu, các chiến sỹ du kích Bắc Sơn luôn thể hiện tinh thần tuyệt đối trung thành với Đảng,sẵn sàng hy sinh vì độc lập,tự do của Tổ quốc. Đồng chí Phùng Chí Kiên,Lương Văn Tri đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng, hy sinh anh dũng trước mũi súngquân thù.Các đồng chí: Hoàng Văn Hán, Hoàng Đình Ruệ, Dương Thần Tần, Mã Viết Vinh, Mã Viết Thốn, Hoàng Doãn Hoàng, Hoàng Văn Khằm, Lương Đình Sơn…bị kẻ thù giam cầm,sát hại, hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.Đồng chí Hà Khai Lạc, Nguyễn Cao Đàm, Nông Thái Long đã có những năm tháng hoạt động tích cực tại Long Châu (Trung Quốc)cùng đồng chí Chu Văn Tấn để củng cố, giữ vững phong trào. Sau này đồng chí Hà Khai Lạc, Nguyễn Cao Đàm đều trở thành uỷ viên Uỷ ban Hành chính Khu tự trị Việt Bắc.

Du kích Bắc Sơn đã nêu những tấm gương sáng về phẩm chất cách mạng, tinh thần hy sinh anh dũng vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Những cống hiến lớn lao của họ đã góp phần đem lại độc lập tự do cho đất nước, tô thắm thêm trang sử vẻ vang của dân tộc, nối dài thống Cách mạng của quê hương xứ Lạng.

 

                                                                              Bài và ảnh: Chu Quế Ngân