Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020
-A A +A

Giới thiệu Di sản văn hoá Xứ Lạng: TRẤN THÀNH LẠNG SƠN

Đọc tên của di tích có thể cho ta biết sơ bộ một số thông tin về Thành cổ, đây là một công trình kiến trúc quân sự quy mô lớn và rất kiên cố. Thành cổ Lạng Sơn nằm trên địa bàn phường Chi Lăng, Thành phố Lạng Sơn, có vị trí thực tại là: Tường thành phía Đông chạy dọc theo đường Quang Trung dài 380m, tường thành phía Nam chạy dọc theo đường Tổ Sơn dài 392m, tường thành phía phía Bắc chạy dọc theo đường Đường Thành dài 392m, tường thành phía Tây giáp khu tập thể ngân hàng và Trường cao đẳng sư  phạm Lạng Sơn dài 380m. Chu vi của thành là 1.560m, Thành cổ được xây dựng trong một không gian rộng lớn, xung quanh bốn mặt thành đều rộng thoáng, bằng phẳng rất thuận tiện cho việc triển khai tấn công và ứng cứu khi cần thiết, đây là một vị trí quân sự đắc địa có ưu thế cả công lẫn thủ.

cong thanh phia Nam.jpg

Cổng phía Nam thành cổ Lạng Sơn

Tường thành được xây bằng “gạch vồ”, là một loại gạch cổ có kích thước lớn 0,15 x 0,17 x 0,40m,  tường cao 4 dựng đứng rất khó xâm nhập tấn công từ ngoài vào, nói là vậy nhưng đã một thời "... Đoàn Thành - tên gọi khác của Thành cổ - ba lần bị thất thủ, dân bảy châu bị hãm vào cảnh lầm than..." (Bài khải xin thêm quân của Ngô Thì Sĩ (1726- 1780);Tường thành phía Tây và phía Nam bên trong được đắp đất cao lên đến mặt thành, ở chân thành được  đắp đất rộng 10, trên mặt thành đắp đất rộng 3m, rất thuận lợi cho số đông binh lính cùng tham gia chiến đấu. Chiều cao tường đất bên trong bằng chiều cao tường xây phía ngoài tạo thành một hình thang vuông vững trãi, có đường huyền thoải dốc rất thuận tiện cho việc triển khai binh lính lên mặt thành, ở góc Tây Nam nơi giao nhau của tường thành phía Tây và phía Nam có một ngọn núi đất nhỏ tên là Tổ Sơn. Tường thành phía Đông và phía Bắc bên trong không đắp đất nhưng trên mặt tường thành lại trổ các lỗ châu mai (lỗ châu mai đứng có kích thước mặt ngoài 0,1mx 0,5và kích thước mặt trong 0,3mx 0,6m) cách nhau 2m, cách  mặt đất 1,35m; Trên đỉnh tường thành gạch được xây chìa ra hai bên, mỗi bên 0,1m  để tạo thành mái bảo vệ tường thành bền vững. Thành cổ hiện còn lại hai cổng (một cổng ở phía Tây và một cổng ở phía Nam), cổng rộng 4m, chân đế được xây bằng đá đẽo kích thước lớn 0,21 x 0,40 x 0,55m, phía trên xây cuốn vòm cao 5m bằng gạch vồ, nhìn cổng thành chúng ta rất dễ nhận biết là cổng thành được thiết kế xây dựng theo kiểu kiến trúc Van Ban (Vô Băng) của Pháp.

Lần ngược về qúa khứ, lục tìm trong các thư tịch cổ và các tài liệu liên quan khác để xác định Thành Lạng Sơn được xây dựng từ bao giờ, đó là một việc làm nan giải, bởi trong kho tàng văn hóa nước nhà cả tài liệu lưu trữ và dân gian viết về Lạng Sơn rất ít và viết riêng về Thành cổ lại càng hiếm hơn. Khi nói về Thành cổ, trước hết phải nói về Lạng Sơn xưa, nói về một vùng biên ải xa xôi, một nơi rừng thiêng nước độc, Nguyễn Tông Khuê (1702- ? ) một danh gia đời Hậu Lê phải thốt lên:

             "Vượt ngàn gian khó tới Đoàn Thành

              Vù vù gió bắc tráng quân thanh..." nêu trong "Trời chiều qua ải Nam Quan" khi đi sứ Thanh năm 1744. Còn Ngô Thì Sĩ (làm Đốc trấn Lạng Sơn từ năm 1777 đến năm 1780) lại lập luận: "... Nếu gọi là nơi phong chướng độc hại thì khi xây dựng Trấn thành có lẽ đâu triều đình chỉ để các quan bị lưu đày ở? Nếu không thì quan ở được lẽ nào lính không ở được?..." trong "Bài khải xin thêm quân giữ biên trấn". Và Phan Huy Chú thực tế hơn:

"... Chênh vênh đỉnh núi mây che lấp

           Cuồn cuộn ngàn khe nước bạc tuôn..."  trong "Ký sự Qủy Môn Quan". Lại nữa, Thượng thư Nguyễn Tư Giản (1823- 1890) nói về Lạng Sơn thật rùng rợn:

"...Xứ Lạng Sơn ác nghiệt hơn sa xuống vực...

Sau chiến tranh xương sót lại chất bên đường...

Nơi đây giao long làm hang, rắn làm ổ...

Ma qủy cùng nhau lui tới....

Ăn uống ngộ độc, ruột gan rối loạn.

Ra vào trúng độc, cười nói điên cuồng..." trong "Bài ca về Xứ Lạng Sơn ác nghiệt". Một Xứ như vậy thì thử hỏi được mấy người lưu luyến quan tâm? Mặc dù vậy, Lạng Sơn vẫn là một phần máu thịt không thể thiếu được của nước Việt ta từ ngàn xưa và dù có rất ít văn nhân xưa nói về Lạng Sơn lại đề cập đến Đoàn Thành thì đó chính là các tư liệu, là tặng vật vô giá của các vị tiền bối dành cho hậu thế. Là những người được thừa hưởng gia tài đó, chúng ta luôn luôn biết ơn và trân trọng. 

Nói đến Đoàn ThànhN, trước hết chúng ta phải nhắc đến cuốn "Lạng Sơn Đoàn Thành đồ" của tác giả Nguyễn Nghiễm (là phụ thân của Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du - tác giả truyện Kiều nổi tiếng) viết năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) khá đầy đủ, chi tiết, rất khớp với các thông tin tác giả Nguyễn Văn Siêu cung cấp, chúng tôi sẽ nêu ở phần sau, còn ở đây chúng ta chỉ tiếp cận những thông tin cụ thể là: "...Chu vi trong của thành là 219 tầm 2 xích 5 thốn (tương đương 439m), chu vi ngoài là 586 tầm 8 xích 7 thốn (1.175,5m), mặt đông rộng 153 trượng 7 xích (752m), mặt tây rộng 140 trượng (658m), mặt nam rộng 273 trượng (1.283,1m), mặt bắc rộng 292 trượng (1.372,4m)...". Thành Lạng Sơn lúc đó có cả nữ thành, đó là lối kiến trúc có kết cấu thuận tiện và rất lợi hại khi chiến đấu. Thanh thành lớn cao 1 tầm 2 xích 5 thốn, còn thanh nữ thành cao 3 xích, tổng cộng là 2 tầm 5 xích (vào khoảng 4,4m). Chân thành dày 6 tầm, 1 xích 3 thốn (khoảng 12,52m), mặt thành dày 3 tầm (6m) và nữ thành dày 1 xích (0,4m). Điều chúng ta cần lưu ý là các số liệu nêu trên có thể có sự nhầm lẫn nào chăng? Bởi lẽ chiều dài một cạnh không thể và không bao giờ lớn hơn chu vi hình có cạnh đó được.

tuong thanh phia Nam.jpg

 

Tường thành phía Nam còn nguyên dáng cổ.

Trong "Bài ký động Song Tiên" Ngô Thì Sĩ có đề cập đến một chi tiết rất nhỏ nhưng lại liên quan đến Thành cổ là: "...Đến tháng 12 năm Đinh Dậu (1777) tôi phụng chỉ lên trấn thành nhiệm chức thấy phía Tây Nam có núi gọi là Lộc Mã có thế  tựa nơi cao giữ phần thắng. Đến tháng 3 mùa xuân năm Mậu Tuất (1778) liền dời dinh lên đóng ở đấy..."  "... ta thường lên núi Lộc Mã ngắm đỉnh Cô Phong (Hang Dê)...". Trong khi đó, Phan Huy Chú (1782- 1840) cho chúng ta rõ hơn hình ảnh của một Đoàn Thành uy nghi: "... Sừng sững bên sông có Đoàn Thành..." và trong "Đoàn Thành hoài cổ" Ông viết: "Thành thị của tỉnh Lạng Sơn có tên gọi là Đoàn Thành là từ xưa vậy. Triều Lê năm Hồng Đức thứ 25 (1485) được sửa lại. Họ Mạc lên ngôi 30 năm, nhà Lê lại trung hưng, nhà Mạc phải chạy vào thành Cổ Phao? Sau lại chạy về chiếm thành này..." khi Ông đi sứ phương Bắc qua Lạng Sơn.

Ngay cả tác giả uyên bác Nguyễn Văn Siêu (1795- ? ) người được đời suy tôn là Thần Siêu, khi viết về Thành cổ Lạng Sơn trong cuốn "Phương đình lọai chí" cũng chỉ nêu: "... thành Lạng Sơn xưa gọi là Đoàn Thành không biết từ bao giờ tương truyền là từ đời nhà Minh (1368- 1644)... Năm thứ 24 niên hiệu Hồng Đức nhà Lê (1493) sửa lại, năm Mậu Dần (1756) niên hiệu Cảnh Hưng quan Đốc trấn là Hương lĩnh hầu Mai Thế Chuẩn lại đắp thêm, chu vi rộng 577 trượng (tương đương 2.711,9m) có văn bia, nay ở trong cửa Bắc tỉnh thành, góc Tây Nam tỉnh thành có một núi đất gọi Thổ Sơn đồn (một tên nữa là Lộc Mã Doanh), năm thứ 17 niên hiệu Minh Mạng (1836) lại đắp thêm vệ thành chu vi dài 129 trượng 9 tấc (603,3m)", thông tin cho ta phán đoán là giai đoạn này có thể sẽ xảy ra hai khả năng: Một là tình hình đất nước rối ren giặc ngoài nhòm ngó, cần tăng cường củng cố quân đội, như thần đồng - bác học Lê Qúy Đôn (1726- 1784) nhận định "... Mãi mãi coi trấn thành Lạng Sơn là một lá bùa..." khi đi sứ phương Bắc. Hai là xã hội phát triển nên nhu cầu mở mang nâng cấp cơ sở hạ tầng cho tương xứng là việc cần làm. Đoàn Thành được tu bổ nhiều lần, ấy vậy mà có lúc:

                         "Trong thành hoang vắng, đầy gai góc

                          Lau trắng trên thành mọc nhấp nhô..." được Nguyễn Đề (1761- 1805) chứng kiến trong "Tức cảnh lúc ở Đoàn Thành".

Như vậy là qua các lần sửa chữa, nâng cấp, thành được mở rộng hơn, xây dựng thêm nữ thành là một kết cấu lợi hại để tăng thêm hiệu qủa chiến đấu. Các thông tin trên còn cho chúng ta sáng tỏ một vấn đề về tên các địa danh cổ xưa, nay đã đổi sang một tên gọi khác, liên quan đến Thổ Sơn - tức Núi đất (nay gọi là Tổ Sơn, không rõ tên núi được đổi từ bao giờ?), cho ta biết đích xác núi Tổ Sơn chính là Thổ Sơn đồn và đó cũng chính là Lộc Mã Doanh - Núi Lộc Mã được Ngô Thì Sĩ nêu trong "Bài ký động Nhị Thanh và bài Trấn doanh bát cảnh" năm 1779.

Ben trong tuong thanh.jpg

Bên trong tường thành vừa được tu bổ tôn tạo.

Nghiên cứu Lạng Sơn trong "Hồng Đức bản đồ", ký hiệu VHC2.076- A2.499 ta thấy Thành Lạng Sơn có hình dạng như hình elíp hơi thắt đầu phía Nam; Đến năm Chính Hòa Thứ 7 (1686) trong "Thiên hạ bản đồ", ký hiệu VHC1.366- A2.628 và "Nam thiên lộ đồ"  ký hiệu VHC1.263- A1.081 Thành Lạng Sơn đã được xây dựng có hình dạng gần giống như ngày nay, điểm khác là ở đoạn giữa hai mặt tường thành phía Bắc và Nam không xây thẳng mà được xây thụt vào bên trong một diện tích vuông nhỏ. Có thể lần sửa chữa, nâng cấp cách đây gần 200 năm (1837) thành có diện mạo như ngày nay nhưng uy nghi hơn, hiện đại hơn bởi khi đó cả bốn cổng thành đều có vọng gác trên mặt thành và đặc biệt hơn là ở cổng phía Đông và Tây vọng gác được dựng hai tầng.

Từ các số liệu của tác giả Nguyễn Văn Siêu nêu trên, ta thấy Đoàn Thành to lớn và bề thế hơn hiện tại rất nhiều, lại nghiên cứu trên thực địa và nhất là lối kiến trúc vòm cuốn cùng các lỗ châu mai ở tường thành thì giả thuyết về việc người Pháp khi mở đường “xa hỏa” lên Na Sầm vào năm 1890 đã thu hẹp thành lại, không để đường sắt đi qua trong thành là có căn cứ. Mặt khác, ở bờ sông đoạn từ cầu Phố Thổ đến qúa đền Cửa Đông còn rất nhiều các khối đá đẽo có kích thước lớn như những khối đá dùng để xây chân móng cổng thành, phải chăng đây là vết tích Thành cổ còn xót lại? Người xưa  thường lợi dụng địa hình tự nhiên để xây thành đắp lũy, mà hào nước ở đây chính là con sông Kỳ Cùng ở phía Đông và phía Bắc thành, ở phía Nam thành có suối Văn Miếu chảy ra cầu Phố Thổ, còn ở phía Tây gần kilômét số 3 có núi vươn ra tận mép sông tạo thành tường thành tự nhiên hiểm trở? Một chi tiết nữa rất nhỏ thôi nhưng cần phải đề cập đến là trên bức tường của đền Cửa Đông có ghi hai chữ Hán là "Đông Môn", nếu dịch là “Cửa Đông” thì không có nghĩa bởi từ "cửa" chỉ được sử dụng đối với các công trình kiến trúc nhỏ như nhà cửa, đình, miếu...., vậy thì từ cửa ở đây là cửa gì? Trường hợp này phải hiểu theo nghĩa là "cổng", tức "Cổng phía đông", vấn đề đặt ra là nếu hiểu theo nghĩa cổng thì chỉ có ở làng và ở thành - khi nói là cổng làng hay cổng thành, nếu vậy thì phải chăng nơi đây là cổng phía đông của Đoàn Thành? Rồi còn Cửa Bắc, Cửa Tây và Cửa Nam đều như thế cả, phải chăng đó là những dấu tích xưa cũ nói về Đoàn Thành?. Và còn nữa khi Đốc trấn Ngô Thì Sĩ nêu trong "Trấn doanh bát cảnh" có câu: "....Trong thành núi nhỏ..." chỉ núi Thành Tâm (hay còn gọi là Cô Phong hoặc Hang Dê) khi Ông cảm nhận và ghi danh tám cảnh đẹp của Xứ Lạng thì núi Hang Dê còn nằm trong Đoàn Thành. Xâu chuỗi các dữ kiện vừa nêu thì chúng ta hình dung ra một Đoàn Thành khác xa hiện tại, nó chính là Đoàn Thành được Nguyễn Văn Siêu đã mô tả với độ lớn mỗi chiều của tường thành là trên 800m, đủ để"Duy con trai thứ 8 Vũ nghĩa tướng quân đô đốc thiên sự nghi quận công Nguyễn Cẩm Miên vâng chỉ sai qủan quân tướng voi ngựa hơn 15.000 người đi trấn giữ Lạng Sơn làm chánh tuần phủ, cùng với người bản xứ đô đốc đồng tri Hoàn quận công Vi Đình Hân cũng vâng chỉ đem hơn 15.000 tướng sĩ voi ngựa lên trấn thủ Lạng Sơn làm phó trấn thủ, đóng đồn tại Đoàn Thành bây giờ cùng nhau giữ gìn biên cương" ghi trong "Nguyễn Đình Lộc gia phả".

Liệu có sự nhầm lẫn chăng bởi 30.000 tướng sĩ, voi, ngựa đóng đồn tại Đoàn Thành? Đoàn Thành nói ở đây không chỉ là Thành Lạng Sơn mà là một không gian bao gồm cả Trấn Lạng Sơn xưa, do đó không có sự nhầm lẫn nào cả mà do chúng ta hiểu không đúng về tên gọi, một tên gọi mà thôi. Khi nói đến Đoàn Thành trong "Phương đình loại chí "Nguyễn Văn Siêu phán đoán khi: "... xét phủ trị phủ Tư Minh cách phía Tây Bắc 10 dặm thế núi vòng quanh gọi là Hồi Đoàn sơn, phía Nam có núi Công Mẫu giáp với Lạng Sơn, có lẽ tên Đoàn Thành là gốc từ đấy..."? Khi tìm hiểu kỹ tên các địa danh trên các bản đồ từ "Hồng Đức bản đồ", "Thiên hạ bản đồ", "Nam thiên lộ đồ" đều có chung một tên gọi là Thành Lạng Sơn; Nhưng ở "Giao Châu dư địa chí" ký hiệu VHC1.379- A2.716 lại gọi là Trấn Thành Lạng Sơn. Nếu gọi là Thành Lạng Sơn thì không có sự phân biệt rõ về khái niệm cũ và mới, nhưng khi gọi Trấn Thành Lạng Sơn thì đây là thành cổ thực sự bởi "Trấn" đơn vị hành chính có từ thế kỷ XVI, như trên đã trình bày thì tên gọi Trấn Thành Lạng Sơn là hợp lý hơn cả.     

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Lạng Sơn được giải phóng vào năm 1950, Đoàn Thành là nơi đóng quân của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Từ đầu thập kỷ 60 đến cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX có thêm Trường văn hóa quân đội và Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn (còn gọi là T2) cả ba đơn vị cùng đóng trong Đoàn Thành (chiến tranh biên giới 1979 Trường văn hóa quân đội chuyển về Hà Tây, Nhà   náy thuốc lá Bắc Sơn chuyển về Hà Bắc). Sau chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh trấn giữ Đoàn Thành đến năm1982 đóng chung với Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng Lạng Sơn. Năm 1985 Đoàn Thành được "phẫu thuật", không phải là để tu bổ hay tôn tạo mà được chia đôi theo trục cổng Bắc Nam là con đường đô thị Nguyễn Thái Học nối với đường Văn Miếu, nửa phía Tây thuộc quyền quản lý của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, nửa phía Đông được chia ra: Góc Đông Bắc do Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng đóng, phần còn lại được sử dụng làm trụ sở của một số cơ quan, trung tâm hội nghị của Tỉnh và khu dân cư. Đây là điều làm cho các nhà quản lý Di sản văn hóa địa phương đau đáu khôn nguôi và liệu có chăng đến một lúc nào đó con cháu chúng ta lại được thấy diện mạo một Đoàn Thành của gần 200 năm trước? Điều may mắn cho chúng ta là hiện vẫn còn giữ lại được hai cổng thành xây vòm cuốn và hai đoạn tường phía Tây và phía Nam thành cổ kính rêu phong của Đoàn Thành.

Năm 2001 cổng vòm phía Nam của Đoàn Thành được tu bổ và cắm bia biển bảo vệ, đến năm 2005 - 2006 lại được tu bổ lớn: ở phía ngoài được xây trát, ở phía trong được đắp đất trồng cỏ như nguyên bản suốt chiều dài đoạn tường từ cổng đến núi Tổ Sơn phía Nam thành.

Trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh ác liệt chống ngoại xâm và cả nội chiến tương tàn, kèm theo sự tàn phá khắc nghiệt của thiên nhiên, Đoàn Thành vẫn trụ vững sừng sững, trầm mặc và uy nghi trên bến “Kỳ Cùng thạch độ”. Và cho dù là thế nào đi chăng nữa thì Đoàn Thành Lạng Sơn vẫn ghi dấu ấn nhãn quan chiến lược quân sự độc đáo, trấn giữ vị trí then chốt của vùng biên giới phía Bắc và mãi mãi phản ánh đó là một công trình kiến trúc quân sự quy mô, kiên cố của các vương triều phong kiến Việt Nam trước đây còn sót lại cho đến ngày nay. Qua đó, còn cho chúng ta biết được và hiểu được phần nào về diện mạo phát triển kinh tế xã hội của Xứ Lạng nói riêng và của nước Việt Nam nói chung trong suốt qúa trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta từ thế kỷ XV đến nay. Đoàn Thành Lạng Sơn đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1999. /.